- Cam mật: cây 5 tuổi cao trung
bình 5 m, tán hình cầu, cây phân cành nhiều, ít gai. Lá có màu xanh đậm, eo lá
nhỏ, tán cây thoáng. Cây ra 2 – 3 vụ trái/năm. Số trái đạt từ 1.000 – 1.200
trái, trọng lượng trung bình 240 – 250 g. Vỏ trái dày 3 - 4 mm, trái mọng nước,
khi chín có màu vàng, thơm, ngọt, ít chua, nhiều hạt. Cam mật là một giống có
năng suất cao. - Cam sành: là giống cam được các nhà vườn ưa chuộng, cây có phẩm
chất trái thơm ngon, trồng được ở nhiều loại đất, màu sắc trái xanh vàng, bề
mặt vỏ sần, trái hình cầu, hơi dẹp hai đầu, thịt trái màu cam, mềm, nhiều nước.
Lá hình trứng màu xanh đậm, trọng lượng trung bình 250g, ít hạt.
b. Các giống quít:
- Quít đường: tán cây trung bình,
trái hơi dẹp hai đầu, vỏ mỏng dễ bóc, múi rời dễ tách, vỏ trái màu vàng xanh,
láng, thịt trái màu cam, mềm: có nhiều nước, vị ngọt, thơm, trọng lượng trái
trung bình 170 g.
- Quít tiều: vỏ màu cam đậm, bề mặt
vỏ láng, nổi múi khá rõ. Trái hình cầu, dẹp hai đầu, vỏ rất dễ bóc, thịt trái
màu cam đậm, mềm, vị hơi chua hơn quít đường, khá nhiều nước, ít hạt. Trọng
lượng trái trung bình 180 g.
c. Các giống bưởi:
- Bưởi Năm Roi: Lá có dạng hình tam
giác, phiến lá hình trứng ngược, vỏ trái màu vàng, bề mặt vỏ rỗ đốm, trái hình
quả lê, vỏ múi dễ bóc, màu thịt vàng đồng đều, vị ngọt hơi chua, nước khá, ít
hạt. Trọng lượng trái trung bình 1 kg.
- Bưởi long: lá có dạng tim, phiến
lá hình trứng ngược; vỏ trái màu vàng xanh, bề mặt trái rổ đốm, trái có hình
cầu hơi chỏm, vỏ múi dễ bóc, thịt trái màu hồng pha, nhiều nước, vị chua, hơi
đắng, ít hạt. Trọng lượng trái trung bình 1,1 kg.
- Bưởi đường da láng: vỏ màu vàng nhạt, bề
mặt vỏ láng, trái hình quả lê, vỏ múi dễ bóc, thịt trái màu vàng đậm, nước
nhiều, vị ngọt đắng, ít hạt. Trọng lượng trái trung bình 1kg.
- Bưởi thanh trà: vỏ trái màu vàng nhạt,
bề mặt vỏ láng, trái hình quả lê, vỏ múi dễ bóc, thịt trái màu vàng nhạt, nhiều
nước, vị ngọt, ít hạt. Trọng lượng trái 1 kg.
Ngoài ra, cây có múi còn
có nhiều giống khác như: Cam xoàn, Bưởi Biên Hòa, Quít Orlando,... mấy năm gần
đây cũng đang được nhà vườn ưa chuộng.
2. Thời vụ:
Cây có múi thường được
trồng vào đầu mùa mưa để đỡ công tưới, tuy nhiên cũng có thể trồng được quanh
năm nếu chủ động nguồn nước tưới.
3. Chuẩn bị đất trồng:
Dùng đất tốt như đất mặt
ruộng, đất bãi bồi ven song,... để đắp mô. Mô có hình tròn, đường kính 0,6 -
0,8 m; cao 0,3 - 0,5 m. Đất đắp mô có thể trộn tro trấu, phân chuồng hoai mục,
xử lý đất bằng Furadan để trừ côn trùng và vôi để ngừa bệnh.
4. Trồng cây chắn gió và che mát:
Cây có múi thích hợp ánh
sáng tán xạ, do đó phải trồng cây che mát cho cam, quít bưởi như các loại cây
mãng cầu xiêm, so đũa,... Đồng thời, trồng cây chắn gió như dừa, xoài, các loại
cây lấy gỗ trên bờ bao,... để hạn chế sự thiệt hại do gió bão, sự lây lan của
côn trùng, mầm bệnh.
5. Khoảng cách trồng:
- Cam sành: 3 x 3 m
- Cam mật, quít, chanh:
4 x 4 m
- Bưởi: 6 x 6 m
Có thể trồng dày hơn để
khai thác trong những năm đầu, khi cây giao tán thì tiến hành đốn tỉa.
6. Đắp mô, bồi liếp:
Trong 2 năm đầu sau khi
trồng: mỗi năm bồi 1 - 2 lần bằng đất bùn ao, đất bãi sông phơi khô. Năm thứ ba
trở đi thì bồi liếp mỗi năm 1 lần khoảng 2 - 3 cm nhằm cung cấp thêm dinh
dưỡng, đồng thời nâng cao tầng canh tác. Chú ý không bồi sát gốc cây.
Mực nước trong mương:
cam, quít rất mẫn cảm với nước, vì vậy cần để mực nước trong mương cách mặt
liếp khoảng 50 - 80 cm.
7. Tủ gốc, giữ ẩm:
Rễ hấp thu dinh dưỡng đa
số mọc cạn, mùa nắng nhiệt độ cao sẽ ảnh hưởng xấu đến rễ, do đó cần tủ gốc giữ
ẩm bằng rơm rạ, lục bình, nhớ tủ xa gốc ít nhất 20 cm.
Ngoài ra, trong vườn cần
lưu ý để cỏ, loại cỏ ăn cạn như cỏ rau trai để giữ ẩm vườn trong mùa nắng, làm
thông thoáng đất trong mùa mưa và giảm thiệt hại cho cây trong mùa lũ. Nếu cỏ
mọc cao nên cắt cỏ bớt (không xới gốc).
8. Cắt
tỉa:
Thường xuyên cắt tỉa
cành già, cành vượt, cành sâu bệnh, cành mọc từ gốc ghép để vườn cây thông
thoáng hạn chế sâu bệnh phát triển.
9. Phân
bón:
Tùy theo đất, giống và
tình trạng dinh dưỡng của cây mà quyết định lượng phân bón thích hợp, cần cung
cấp đầy đủ đạm, lân, kali; bổ sung thêm phân hữu cơ và vi lượng để cây đạt năng
suất cao.
Năm tuổi
|
Loại phân
|
|
Urê (g/cây/năm)
|
Super lân (g/cây/năm)
|
Kali (g/cây/năm)
|
|
1 - 3
|
100 – 300
|
300 – 600
|
100
|
|
4 - 6
|
400 – 500
|
900 – 1.200
|
200
|
|
7 - 9
|
600 – 800
|
1.500 – 1.800
|
300
|
|
Trên 10
|
800 – 1.600
|
2.000 – 2.400
|
400
|
- Đối với cây 1 - 2 năm
tuổi:
+ Phân
đạm: nên pha vào nước để tưới, 2 - 3 tháng tưới một lần.
+ Phân lân
và kali: bón một lần vào cuối mùa mưa.
- Đối với cây trưởng
thành: chia làm 4 lần bón/năm.
* Lần 1: Trước khi cây
ra hoa: bón 1/3 Urê
* Lần 2: Sau khi đậu
trái 6 - 8 tuần: bón 1/3 Urê + 1/2 kali.
* Lần 3: Trước thu hoạch
trái 1 - 2 tháng: bón 1/2 kali còn lại.
* Lần 4: Sau khi thu
hoạch trái bón toàn bộ lân và 1/3 Urê.
Kết hợp bón 10 - 20kg
phân hữu cơ/gốc.
- Cách bón: dựa theo tán
cây để bón, cuốc rãnh sâu 5 - 10cm; rộng 10 - 20cm cách gốc 0,5 - 1m (tùy tán
cây); cho phân vào, lấp đất lại và tưới nước.
Khi cây giao tán nên
dùng cuốc xúc nhẹ lớp đất xung quanh gốc theo hình chiếu của tán, cách gốc
khoảng 50cm. Tưới đẫm liếp trước, sau đó rải phân thẳng lên mặt liếp.
Hằng năm, cần bón thêm
phân hữu cơ cho cây nhằm vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây, vừa giúp đất tơi xốp,
giúp bộ rễ cây phát triển tốt. Nếu bón phân chuồng nên bón phân hoai để giảm ô
nhiễm môi trường và hạn chế được nấm bệnh (có trong phân chưa hoai).
Để cung cấp thêm vi
lượng cho cây, có thể bón thêm phân qua lá như HVP, Komix,... vào giai đoạn cây
ra lá non và khi trái bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lần phun cách nhau 10 - 15
ngày, phun 4 - 5 lần/vụ.
Cần bón vôi hàng năm với
lượng 200 - 500kg/ha/năm có thể bón đến 1.000kg/ha/năm.
10. Xử lý ra hoa:
Dùng biện pháp xiết nước
để kích thích ra hoa cây có múi. Cách làm như sau:
- Sau khi thu hoạch tiến
hành cắt tỉa cành bị sâu bệnh, cành vô hiệu (không có khả năng cho trái) và bón
phân bồi dưỡng để cây phục hồi sau mùa cho trái.
- Rút khô nước trong
mương vườn và ngưng nước để tạo “sốc” cho cây.
- Thời gian xiết nước
kéo dài khoảng 3 tuần đến khi thấy lá hơi héo thì cho nước vào mương cách mặt
đất 20 - 30cm trong 12 giờ, sau đó rút bớt nước ra còn cách mặt liếp 50 - 60 cm
để không làm rễ cây bị thiệt hại gây mất sức cho cây.
- Tưới nước, bón phân
đầy đủ thúc cây sớm ra đọt và nụ hoa. Nếu dùng thêm KNO3 0,5 -- 1%
kết hợp với Atonik, thời gian xiết nước sẽ rút ngắn hơn.
Lưu ý: Chỉ nên xiết nước đối
với vườn cây trên 3 năm tuổi và thời gian xiết nước không quá 20 ngày để kéo
dài tuổi thọ và thời kỳ kinh doanh của cây có múi.
III. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH
1. Sâu vẽ bùa: phát triển mạnh ở giai đoạn cây ra lá
non, sâu rất nhỏ, đục dưới biểu bì lá tạo thành những đường ngoằn nghèo. Sự phá
hại của sâu làm lá co rúm, biến dạng, quăn queo và các vết thương do sâu tạo
trên lá, chồi tạo điều kiện cho bệnh loét phát triển.
* Phòng trị:
- Chăm sóc cây sinh
trưởng tốt, thúc cây ra đọt non tập trung, mau thành thục để hạn chế được sự
phá hoại của sâu.
- Dùng các loại thuốc
nội hấp như: Cymbush với liều 8 cc/8 lít; Bi 58 0,1%, liều lượng 20 g/8 lít
nước. Lannate liều lượng 20 g/8 lít nước vào các đợt cây ra đọt non.
2. Rầy mềm: Thường chích hút ở chồi ngọn, làm cho
chồi và lá non không phát triển được, co rúm lại, đồng thời tạo điều kiện cho
nấm bồ hóng cộng sinh và phát triển. Rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh
Tristeza.
* Bệnh Tristeza có triệu chứng rõ rệt
nhất trên cây chanh là loại cây có múi mẫn cảm nhất: cây lùn, trái nhỏ, lá nhỏ,
hơi cong giống hình muỗng, gân lá sưng, soi lá đối diện với ánh nắng thì thấy
gân trong, bóc vỏ thân cây thì thấy bị rỗ (có những lỗ nhỏ như những cái gai ấn
sâu vào thân cây).
* Phòng trị:
Phun thuốc định kỳ vào
các đợt ra đọt non như: Supracide 40EC với liều lượng 10 - 15cc/8 lít nước,
Polytrin 440EC với liều 8- 15cc/8 lít nước.
3. Rầy chổng cánh: đây là đối tượng rất
nguy hiểm. Rầy chổng cánh thường chích hút nhựa lá non, đọt non và làm lây bệnh
vàng lá Greening.
* Phòng trị: tương tự như đối với rầy
mềm.
4. Nhện đỏ: Cả ấu trùng và thành trùng đều rất nhỏ
màu nâu, vàng lợt hoặc trắng trong tùy loại, thường bu chích hút bên ngoài vỏ
trái non (1 - 2 tháng tuổi) làm cho vỏ trái như phủ cám nên thường gọi là trái
da cám, làm giảm giá trị của trái thương phẩm.
* Phòng trị: quan sát thường xuyên sự
xuất hiện của nhện trên trái, lá. Phun các thuốc đặc trị nhện đỏ như Bi 58 với
liều 20g/8 lít nước, Danitol 10EC, Microthiol special 80WP, Rufast 3EC với nồng
độ 1 - 3%. Tưới đẫm nước trên vườn sẽ giảm được mật số nhện, do đó không cần
phun thuốc trừ nhện trong mùa mưa (cần chú ý thoát nước tốt khi tưới đẫm và mưa
ngập).
5. Bệnh loét: Bệnh do vi khuẩn gây ra, bệnh gây hại
trên cả lá, trái, cành cây, vết bệnh lúc đầu nhỏ, sủng nước màu xanh đậm, sau
biến thành màu nâu nhạt mọc nhô lên mặt lá hay vỏ trái. Xung quanh vết bệnh có
quầng vàng. Trên trái non và trên cành vết bệnh có thể ăn sâu 1 - 3mm và làm
trái dễ bị rụng, nếu trái không rụng cũng bị mất giá. Bệnh thường gây hại nặng
trong mùa mưa.
* Phòng trị:
- Cắt bỏ, tiêu hủy cành
lá, trái bệnh.
- Phun các loại thuốc
gốc đồng như Copper Zine, Kasuran liều lượng 1,5 - 2% ở giai đoạn chuẩn bị đâm
tược ra hoa và giai đoạn 2/3 hoa rụng cánh - tiếp tục phun định kỳ 2 tuần/lần.
6. Bệnh thối gốc chảy mủ: do nấm gây ra, bệnh
làm thối vỏ thân ở gốc kể cả rễ cạn bên trên, có chảy mủ hôi. Khi cây bệnh ít rễ,
rễ ngắn, vỏ rễ thối rất dễ tuột, lá vàng. Nấm cũng có thể tấn công trên trái,
nhất là trái ở gần mặt đất.
* Phòng trị:
- Chọn gốc ghép kháng
bệnh như chanh Volkameriana hoặc cam ba lá.
- Đất trồng phải ráo, dễ
thoát nước; không tủ cỏ rác, không bồi bùn non sát gốc cây.
- Tránh gây thương tích
vùng gốc và rễ cây.
- Theo dõi phát hiện
sớm, cạo sạch vùng bệnh (cạo đến tận phần thân gỗ), bôi thuốc tím 1% hay
Aliette 80BHN, Copper B, Vaseli n có trộn sulphat đồng,… rải vôi và thu gom các
trái bệnh.
7. Bệnh vàng lá gân xanh (Greening): là bệnh gây hại nghiêm
trọng nhất. Cây bị chết có lá vàng lốm đốm nhưng gân xanh, lồi, trái nhỏ, méo
mó. Khi chẻ dọc trái ta thấy trái bị lệch tâm, hạt bị thui.
* Phòng trị:
- Loại bỏ cây nhiễm
bệnh, cây ký chủ rầy chổng cánh như nguyệt quới, dây tơ hồng.
- Trồng cây sạch bệnh
- Cách ly nguồn bệnh
bằng cách trồng cây chắn gió cho vườn cây cam quít.
- Phun thuốc định kỳ vào
các đợt cây ra lá non, nhất là vào đầu mùa mưa để trừ rầy như Applaud, Applaud
Mipc 25%, Bassa, Trebon,...
8. Bệnh ghẻ lồi: do nấm gây hại trên cả
lá và trái. Bệnh thường tấn công vào giai đoạn cây ra đọt non, trái non. Lá,
trái bị bệnh sần sùi nên bán mất giá.
* Phòng trị: Phun các loại thuốc
trừ nấm như Bonanza, Tilt, Copper B vào giai đoạn cây ra lá non, trái non.
CÁC BIỆN PHÁP TỔNG HỢP ĐỂ BẢO VỆ VƯỜN CÂY CAM QUÝT
- Tỉa cành: Cần mạnh dạn
tỉa cành giúp cho vườn thông thoáng.
- Bón phân hữu cơ: Hàng
năm cần bón phân hữu cơ hoai cho cây, có thể bón thêm vôi.
- Giữ cỏ trong vườn:
Trồng cỏ có rễ ăn cạn, khống chế cỏ bằng cách xén trên mặt, không đào cả rễ.
- Không bón phân, tưới
nước, bôi bùn non vào gốc cây. Nên giữ cỏ, rác cách gốc 20 – 30cm.
- Đầu mùa mưa dùng vôi
pha phèn xanh hoặc Copper Zine quét vào gốc cây, cành cây.
- Phun thuốc ngừa sâu
bệnh vào giai đoạn cây ra đọt non và trái non.
- Phát hiện sớm cây bị
bệnh vàng lá Greening và nhanh chóng loại bỏ, đồng thời phun xịt thuốc trừ rầy
chổng cánh khi cây đâm tược non.